Tin tức

Các thái giám nhà Nguyễn

Cuộc đời đầy kịch tính của thái giám Chu Phúc Năng

Thái giám đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử nước ta cũng như trong lịch sử các nước Á Đông, nhưng tại Việt Nam, tầng lớp này qua các đời không có số lượng đông đảo, và cũng không có ảnh hưởng quá lớn về chính trị- xã hội, vấn nạn “hoạn quan lộng quyền” mà các triều đại phong kiến lo sợ hiếm khi xảy ra.

Tuy nhiên, cũng chính vì sự ít ỏi và ảnh hưởng hẹp của tầng lớp thái giám, cùng với thân phận vừa là kẻ khiếm khuyết cơ thể, vừa chỉ là tôi tớ trong nhà của hoàng đế, chịu sự coi thường của các nhà Nho. Vì thế, ngoại trừ các trường hợp hãn hữu như Lý Thường Kiệt, Hoàng Ngũ Phúc, Lê Văn Duyệt….vốn có quân công lớn (hoặc tội to), còn thì ngòi bút của các sử gia khi viết về những nội thị, thái giám, hoạn quan này đều chỉ khắc họa họ như những cái bóng mờ nhạt trong cung cấm, tên tuổi hành trạng họ đều chìm lấp trong dòng chảy của lịch sử.

Dẫu vậy, trong bộ chính sử “Đại Nam thực lục” của nhà Nguyễn chúng tôi lại tìm thấy tên của một thái giám xuất hiện kha khá lần đó là Chu Phúc Năng, điều đặc biệt đây lại là vị thái giám bình thường, không hề cầm quân, không được nắm trọng quyền, cũng không thấy ghi nhận công trạng gì của ông. Có thể tóm gọn lại hành trạng của họ Chu bằng câu “Lên voi xuống chó”.

Gốc gác lai lịch của Chú Phúc Năng không được sử liệu nhắc đến, lần đầu họ Chu xuất hiện là vào năm Can Thìn, Minh Mệnh nguyên niên (1820), Chu Phúc Năng tấu lên Minh Mệnh về việc chọn bổ bốn viên ở Nội lệnh sứ ty được thực thụ chức hàm. ([1]tr 29).

Tới năm Quý Tỵ, niên hiệu Minh Mệnh thứ 14 (1833), triều đình hạ lệnh cho viên quản thị vệ kiêm lĩnh cả ty Thanh cẩn (trước thuộc Đội trưởng Nội giám là Chu Phúc Năng kiêm quản). ([4]tr471)

Như vậy, có thể thấy trong 13 năm (1820 – 1833), Chu Phúc Năng đã thăng tiến và có địa vị rất cao trong hàng ngũ thái giám trong nội cung (Đội trưởng Nội giám) kiêm quản Nội lệnh sứ ty và Thanh cẩn ty. Một điểm cần chú ý là Thanh cẩn ty không phải là một ty cục trong nội cung, mà lại là một ty thuộc Tào chính ty ([2]tr 66, 67), Tào chính ty là cơ quan chịu trách nhiệm quản lý việc vận tải đường thủy trong cả nước ([3]tr 472, 473)

Tại sao một viên nội giám lại được điều ra kiêm quản một ty thuộc bộ máy hành chính nhà nước và vai trò của họ Chu trong Thanh cẩn ty là gì? Thì sử liệu không nhắc đến.

Sau đó 2 năm họ, Chu gặp phải lỗi “vạ miệng” đầu tiên. Tháng 5 năm Ất Mùi, niên hiệu Minh Mệnh thứ 16 (1835), bộ Binh chủ trì chế tạo thang bay để đánh thành Gia Định (do quân nổi dậy của Lê Văn Khôi chiếm giữ), Chu Phúc Năng nhiều lần qua lại nơi thợ làm để truyền mệnh lệnh, nhân đó tâu rằng : “Đảng giặc ở trong thành Gia Định, cũng sắp chết, “thang bay” này chỉ nên để lưu lại làm phép cho muôn nghìn đời thôi !”

Tạo hình thái giám trong phim Phượng Khấu

Tạo hình thái giám nhà Nguyễn mặc áo tứ thân xẻ giữa bằng lụa trong bộ phim “Phượng Khấu”

Kết quả là, vua Minh Mệnh giận vì những lời cuồng dại ngang trái ấy, lập tức sai bắt Năng, xiềng lại, giao xuống bộ Hình nghị tội. Khi bản án dâng lên, bộ Hình xin khép vào tội bất kính, xử giảo giam hậu. Vua dụ xuống đại ý rằng

“Từ trước đến nay, bọn hoạn quan lạm dự quyền bính, gây vạ cho nhà và nước người ta. Tệ hại ấy, ta rất lấy làm răn, phàm các hoạn quan chỉ dùng để sai khiến, chạy vạy, chứ không hề cho tham dự việc nước. Chu Phúc Năng chỉ là một tên gia nô, thế mà vì có được nhờ ơn đã lâu, cậy được yêu thương, dần sinh rông rỡ, một khi thấy mình có chút khó nhọc đã vội nói ra những lời cuồng dại ngang trái ! Nếu không theo luật trị tội nặng, thì không lấy gì răn bảo sau này. Bầy tôi bộ Hình nghĩ xử vào tội buộc cổ, thật cũng đáng tội ! Vậy chuẩn y điều đã nghị xử”.

Nhân đó vua lại dặn quan hầu rằng : “Tai vạ của đời trước phần nhiều là do hoạn quan nắm quyền. Ta cần phải trị tội Chu Phúc Năng cho đúng, là muốn có cái để làm gương mẫu cho đời sau ta, hễ có ai giao quyền cho kẻ hoạn quan, thì đình thần nào có lòng trung nghĩa, còn có thể vin vào việc cũ để thẳng thắn can ngăn được”.

Nhưng chưa bao lâu, nhân có phái viên đi sang miền Đông. Vua bảo rằng : “Tên hoạn quan can phạm là Chu Phúc Năng, đã đành tội đáng giết thật, ta chỉ nghĩ : hắn tuy là đầy tớ, nhưng cũng là mạng người, có quan hệ đến đạo trời, há nỡ vì cớ một câu nói mà vội giết ngay đi sao ?” Bèn tha tội Năng và giao cho phái viên, bắt làm việc khổ sai, hiệu lực chuộc tội. Khi xong việc công trở về, Năng lại được sung làm cung giám. ([6]tr 639, 640)

Bắt đầu từ tháng 2 năm Bính Thân, niên hiệu Minh Mệnh thứ 17 (1836), triều đình định cấp bậc cho các thái giám làm 5 đẳng ([7]tr 298)

  • Thủ đẳng: Quản vụ thái giám, điển sự thái giám
  • Thứ đẳng: Kiểm sự thái giám, phụng nghi thái giám
  • Trung đẳng: Thừa phụng thái giám, điển thảng thái giám
  • Á đẳng: Cung sự thái giám, hộ thảng thái giám
  • Hạ đẳng: Cung phụng thái giám, thừa biện thái giám

Tháng 9 năm Mậu Tuất, niên hiệu Minh Mệnh thứ 19 (1837), Chu Phúc Năng lại được thăng chức, theo đó cho Chu Phúc Năng, Nguyễn Ân làm Phụng nghi thái giám, thuộc hàng thứ đẳng. ([7]tr 379)

Ba năm sau đó, họ Chu lại vì vạ miệng mà tiếp tục bị phạt, lần này là vào tháng 11 năm Canh Tý, niên hiệu Minh Mệnh thứ 21 (1840). Theo đó, Thừa biện thái giám là Nguyễn Đức vì nói bàn xằng bậy, bị tội cách bậc, phát ra hồ Tĩnh Tâm sung làm việc khổ sai ; Phụng nghi thái giám là Chu Phúc Năng vì tội phụ hoạ theo Đức, cũng bị cách làm cung giám. ([7]tr 844)

Lần xuất hiện cuối cùng của họ Chu trong Đại Nam thực lục là vào tháng 12 năm Nhâm Dần, niên hiệu Thiệu Trị thứ 2 (1842). Ngày Quý Mùi, Thiệu Trị đế đi viếng Hiếu Lăng, nghỉ tại ở hành cung An Bằng, trời gần sáng, xa giá sắp đi, Thái trưởng công chúa Ngọc Nguyệt, đi võng mang theo người cầm đao, vào thẳng hành dinh, suất đội canh giữ là Trần Bản không ngăn lại. Quan Hành dinh đại thần Hà Duy Phiên sai người đuổi theo hỏi, nhưng đày tớ trưởng của Công chúa là Chu Văn Linh không chịu dừng.

Việc bị hặc tâu, vua cho Hình bộ và Tôn nhân phủ tra xét, Trần Bản đổ tội cho tên tiểu giám là Tài đã không ngăn võng lại, Tài chối cãi kêu oan. Khi đó, Chu Phúc Năng liền đến trước mặt đường quan bộ Hình, lớn tiếng, nói : “Tài bị vu oan !”. Thái giám Đặng Tín cũng cố cãi hộ. Việc lại bị hặc lên.

Vua giận mắng rằng “Bọn hoạn quan dùng để sai khiến và quét tước mà thôi, công việc triều đình, há được dự đến ! Không ngờ cái lũ “trời bắt tội” này lại che đỡ lẫn nhau, dám cùng các công, khanh cãi bẻ phải trái, không thể để cho bậy dần thêm được. Vậy Chu Phúc Năng, xử giáng 4 bậc ; Tín, đem đánh 40 côn đỏ, cách chức phát ra khổ sai ở Cung giám”. Kết quả, Chu Văn Linh bị xử giảo giam hậu, Trần Bản bị cách chức, đánh trượng phát vãng đi Nam Kỳ; Thái trưởng Công chúa bị cắt lương bổng 4 năm, Phò mã Nguyễn Đức Hựu không biết dạy vợ, bị cách lưu. Chu Phúc Năng và Tín bị y tội như vua dụ. ([8]tr 434, 435)

Chi tiết xử giáng 4 bậc Chu Phúc Năng cho ta thấy là năm 1840 dù bị xử hạ xuống làm cung giám (thuộc á – hạ đẳng), nhưng họ Chu sau đó vẫn được thăng lên đến cấp thủ đẳng, rồi đến năm 1842 lại bị giáng xuống cấp hạ đẳng tiếp.

Sau những ghi chép trên, không thấy Chu Phúc Năng xuất hiện trong sử liệu của Thực lục nữa.

Tìm ra một lời lí giải rõ ràng cho việc họ Chu nhiều lần mắc tội, nhưng rồi lại vẫn thoát và được thăng tiến khá khó. Nhưng nguyên nhân chủ yếu thì chúng tôi tạm cho rằng do trong cung đình nhà Nguyễn số lượng thái giám khá ít ỏi, và khó thay thế, nhưng nội cung vẫn luôn cần có thái giám để hầu hạ, nên các thái giám như Chu Phúc Năng dù có thể bị khinh thường, trách phạt, nhưng cuối cùng vẫn được khoan hồng tha cho để tiếp tục phận sự hầu hạ của mình.

Bằng chứng cho sự ít ỏi và khó thay thế của đội ngũ thái giám này có thể thấy qua chỉ dụ của Mnh Mạng vào năm 1824 nhắc tới việc trong cung “chỉ có hơn 10 người không đủ sai khiến”, từ đó triều đình phải xuống dụ tìm kiếm nguồn bổ sung thái giám “sai các địa phương từ Nghệ An ra Bắc xét hỏi trong dân gian có người nào là yêm hoạn [người như đàn ông mà không có dương vật] thì do trạm dẫn về kinh (tuổi từ 13 trở lên đến 65 trở xuống)” ([4]tr 331). Đến năm 1838, lại tiếp tục hạ chỉ “phàm thượng ti ở các địa phương mỗi năm đều một lần hỏi rõ trong hạt như có một người thiếu mất ngọc hành tuổi mới 12 trở lên, tư về bộ để lưu chiểu, nhưng cho giữ nuôi ở quê, còn từ 13 tuổi đến 65 tuổi, đưa vào kinh” ([4]tr 305)

Thái giám của nhà Nguyễn đến từ 2 nguồn, một là từ những người bị dị tật sinh thực khí bẩm sinh (được gọi là “giám sinh”), hai là từ những người bình thường tự nguyện tịnh thân vào cung (gọi là “giám lặt”), nhưng qua các chỉ dụ triều đình hạ xuống có thể thấy, nguồn chủ yếu vẫn là những giám sinh; những giám sinh này lại không nhiều nên triều đình sẵn sàng mở rộng độ tuổi thu nhận các giám sinh này lên tới tận 65 tuổi để tận dụng hết.

Hậu vận họ Chu sau này ra sao, sau khi bị giáng cấp họ Chu có tiếp tục được thăng tiến hay lại mắc tội, có can dự gì vào các biến cố cung đình hay lịch sử…ta không biết được nữa.  Nhưng một viên thái giám nhỏ nhoi mà 2 lần chọc giận 2 vị hoàng đế, bị cả 2 hoàng đế nhắc đến mà mắng nhiếc, 1 lần bị xử chết hụt, dám trước mặt đường quan bộ Hình lớn tiếng, nhiều lần được thăng lên đẳng cao nhất trong hàng thái giám rồi cũng nhiều lần bị giáng xuống cấp thấp nhất, và sau tất cả những biến cố đó họ Chu vẫn còn sống, được chính sử nhà Nguyễn lưu lại danh (dù cái danh đó không phải danh thơm). Thì quả cũng là chuyện kì thú hiếm thấy xưa nay!

 

Nguồn dẫn:

  1. Cục văn thư và lưu trữ nhà nước – Trung tâm lưu trữ quốc gia I, Ngự phê trên châu bản triều Nguyễn (1802 – 1945), (2016), Nxb Đại học Sư phạm.
  2. Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (2005), Huế, NXB Thuận Hóa, tập II
  3. Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (2005), Huế, NXB Thuận Hóa, tập VIII
  4. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (2007), Hà Nội, NXB Giáo Dục; Chính biên, Đệ nhị kỷ, Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế Thực Lục, tập 2
  5. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (2007), Hà Nội, NXB Giáo Dục; Chính biên, Đệ nhị kỷ, Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế Thực Lục, tập 3.
  6. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (2007), Hà Nội, NXB Giáo Dục; Chính biên, Đệ nhị kỷ, Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế Thực Lục, tập 4.
  7. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (2007), Hà Nội, NXB Giáo Dục; Chính biên, Đệ nhị kỷ, Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế Thực Lục, tập 5
  8. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (2007), Hà Nội, NXB Giáo Dục; Chính biên, Đệ tam kỷ, Hiến Tổ Chương Hoàng Đế Thực Lục, tập 6

Leave a Reply

avatar
  Subscribe  
Notify of