Tin tức

Khắn đóng áo dài xưa của nam trang trọng

Lược sử về trang phục cung đình Việt Nam

Dân tộc Việt Nam có hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước với một nền văn hóa phong phú, độc đáo và lâu đời. Nền văn hóa ấy được giới thiệu về nhiều mặt, nhưng vẫn còn những đối tượng chưa được đề cập tới. Trong bài viết này, Ỷ Vân Hiên chúng tôi muốn đề cập tới một khía cạnh văn hóa ít được quan tâm nhưng không kém phần quan trọng – vấn đề trang phục Việt Nam. Đặc biệt là trang phục cung đình Việt Nam – một nét đẹp dân tộc Việt Nam.

Trang phục cung đình thời Ngô – Đinh – Lê

Trang phục quan phương của Việt Nam từ thời Đinh trở về trước hiện khó có thể truy khảo. Song vào năm 939, Ngô Quyền xưng vương, đặt ra bá quan và nghi lễ trong triều, đồng thời quy định lấy màu sắc trang phục để phân biệt phẩm trật của bá quan, đánh dấu sự áp dụng lần đầu tiên và chính thức quy chế phục sắc của nhà Đường vào cung đình nước Việt. Bởi trang phục của bá quan Trung Quốc đến thời Đường mới bắt đầu được phân biệt dựa trên màu sắc áo.

Sau khi xưng đế năm 968, năm 975, vua Đinh cũng định ra áo mũ cho văn võ bá quan. Những quy định cụ thể của trang phục cung đình thời Ngô – Đinh, qua ghi chép về cuộc sống của vua quan Đại Cồ Việt thời Tiền Lê “khi có yến hội, người vào dự tiệc đều phải cởi đai, mũ”, và mô tả về quan Đại Việt  “mặt trắng răng đen, thắt đai, đội mũ, mặc áo Đường”, có thể thấy lối trang phục đai – mũ kiểu Đường nhiều khả năng được định hình từ thời Ngô vương và kéo dài đến thời Trần.

Ngoài ra, vào thời vua Lê Hoàn, ta còn được biết trang phục của vua tôi Đại Cồ Việt thời kỳ này có vẻ khá “sặc sỡ”. Lê Hoàn hay mặc áo có hoa văn và màu đỏ, mũ lấy trân châu trang sức. Cuối thời Tiền Lê, năm 1006, vua Lê Long Đĩnh đổi quan chế, Triều phục nhất nhất noi theo chế độ nhà Tống. Triều phục (trang phục mặc trong các buổi lễ) của nhà Tống có ba loại mũ Lương Quan với ba kiểu: Tiến Hiền, Điêu Thiền, Giải Trãi, còn Công phục (trang phục dùng hi xử lý công vụ, thời này đồng nghĩa với Thường phục) duy có mũ Phốc Đầu. Toàn thư cũng ghi nhận sự tồn tại của loại mũ Lương Quan vào thời Lý, đồng thời cho biết năm 1059, nhà Lý “lệnh cho bá quan phải đội mũ Phốc Đầu, đi hia mới được vào triều, việc đội mũ Phốc Đầu, đi hia bắt đầu từ đó.” Như vậy, chế độ Triều phục và Công phục của bá quan nhà Tống lần lượt được áp dụng vào triều đình Đại Việt với mốc năm 1006 và năm 1059.
Chế độ trang phục của nhà Trần về cơ bản kế thừa chế độ của nhà Lý.

Tuy nhiên, tính đến trước thời điểm năm 1396, nhà Trần có hai đợt cải cách trang phục Thường triều cho bá quan, lần thứ nhất diễn ra vào năm 1254, lần thứ hai sau đó 46 năm. Từ năm 1301, kiểu dáng áo mũ Thường triều của bá quan đều được chế mới. Lúc này, mũ Phốc Đầu của thời Lý bị phế bỏ, thay vào đó là mũ Đinh Tự. Riêng Tụng quan được quy định đội mũ Toàn Hoa màu xanh. Vương hầu hoặc đội mũ Triều Thiên, hoặc đội mũ Bao Câ tùy xem họ để tóc dài hay cắt ngắn. Ngoài ra, trong chế độ quan phục
Lý Trần còn có sự xuất hiện của quy chế Ngư đại, thứ trang sức có hình con cá, mắc vào đai để tỏ sự sang trọng, vinh hiển, phỏng theo chế độ quan phục nhà Tống, mà xa hơn là nhà Đường. Trang phục nhà Hồ kế thừa chế độ áo mũ nhà Trần sau cải cách năm 1396 với những chiếc mũ Khước Phi, Viễn Du, Thái Cổ, Cao Sơn v.v. vốn là các loại mũ mão của bá quan nhà Hán, thể hiện rõ tâm lý sùng cổ và muốn có sự khu biệt về văn vật của nhà Hồ. Với nhiều lý do, nhà Hồ chỉ giữ ngôi được 7 năm, để một lần nữa sau 1000 năm Bắc thuộc, đất nước lại rơi vào ách thống trị của Trung Hoa. Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa Lam Sơn, sau 10 năm thu lại được toàn vẹn lãnh thổ, tái thiết triều đình Đại Việt. Sau khi kỷ cương được lập lại, quan chế và trang phục triều đình Lê sơ đều tuân theo chế độ Trần – Hồ, thể hiện ở việc sử dụng rộng rãi mũ Cao Sơn cho văn võ bá quan Song đến tháng 5 năm 1437 thời vua Lê Thái Tông, một cuộc tranh cãi nảy lửa giữa phe bảo thủ muốn gìn giữ chế độ cổ Trần – Hồ và phe cấp tiến muốn du nhập chế độ áo mũ triều nghi mới của nhà Minh đã diễn ra, mà đứng đầu hai phe là Nguyễn Trãi và Lương Đăng. Do sự thiếu khuyết sử liệu và sự chần chừ của Nguyễn Trãi, vua Lê Thái Tông đã chuẩn theo tấu nghị của Lương Đăng du nhập một phần chế độ phẩm phục của nhà Minh, theo đó “vào dịp đại lễ vua mặc áo Cổn, đội mũ Miện, Thường triều đội mũ Xung Thiên, mặc Hoàng bào; mồng một, ngày rằm, bá quan mặc Công phục, đội Phốc Đầu; Thường triều đội mũ Ô Sa, áo cổ tròn.” Năm 1437, vua Lê Thái Tông đồng thuận việc du nhập dạng áo mũ Công phục và Thường phục mới của nhà Minh (lúc này khái niệm Công phục đã không còn đồng nhất với khái niệm Thường phục), làm tiền đề cho năm 1471, vua Lê Thánh Tông tiếp tục du nhập chế độ phẩm phục Bổ tử, và năm 1486 quy định bá quan vào triều phải đội mũ Ô Sa với hai cánh nhất loạt hướng về phía trước. Chế độ Ô Sa – Bổ phục là chế độ áo mũ có thể khu biệt khá kỹ chức tước, phẩm trật của bá quan, vậy nên nhà Thanh, nhà Triều Tiên, Lưu Cầu (nay là tỉnh Okinawa, Nhật Bản) và nhà Nguyễn sau này đều tham chước mô phỏng. Đến thời vua Lê Hiến Tông, năm 1500, triều đình Đại Việt đã thực hiện cải cách đối với chiếc mũ Phốc Đầu, trong đó bao gồm việc sửa đổi kiểu dáng cánh chuồn và quy định trang sức vàng bạc trên mũ để tiếp tục phân biệt phẩm cấp một cách kỹ lưỡng hơn.

Các triều vua Lê về sau cho đến thời nhà Mạc cũng có một số lần thay đổi quy chế mũ mão phẩm phục, song nhìn
chung vẫn dựa trên chế độ cơ bản được xác lập từ thời vua Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông. Sau những động loạn cuối thời Lê sơ, bước vào thời Lê Trung Hưng, vua Lê dần dần chỉ còn hư vị, cán cân quyền lực ngả sang chúa Trịnh, khiến một phần quy chế áo mũ dành cho thiên tử nhà Lê bị lược bỏ. Trước đây, bá quan có Triều phục,

Thường phục mặc vào chầu vua, thì nay còn có thêm bộ trang phục để mặc riêng vào vương phủ hầu chúa. Với những biến cố cung đình liên tiếp diễn ra trong giai đoạn này, cùng sự cồng kềnh của bộ máy quan liêu kể từ nửa cuối giai đoạn Lê Trung Hưng, quy chế trang phục của bá quan cũng hết sức hỗn loạn, buộc Tham tụng Nguyễn Công Hãng năm 1721 sau khi đi sứ sang nhà Thanh phải tìm kiếm điển chương cũ của nhà Minh về đặt định lại chế độ phẩm phục cho được đúng đắn. Trang phục cung đình nhà Lê lúc này tiếp tục thu nhận các kiểu dáng hoa văn, trang trí của Trung Quốc giai đoạn cuối Minh đầu Thanh. Cũng kể từ đây, trang phục bá quan vào hầu chúa tiếp tục được phân làm hai bộ: một bộ mặc khi chúa coi chính sự ở phủ và một bộ mặc khi chúa tiếp khách ở các.
Mặt khác, chúa Nguyễn từ khi vào phương Nam mở cõi dần dần có ý định độc lập với triều đình chúa Trịnh ở Đàng Ngoài.
Đến thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, năm 1744, chúa tự ý xưng vương, quyết thay đổi nghi lễ, trang phục từ cung đình cho đến dân gian Đàng Trong đều nhất loạt theo phong khí mới. Từ việc kế thừa một phần trang phục của nhà Lê, tham khảo hình dạng áo mũ trong Tam tài đồ hội của nhà Minh, đặc biệt phổ biến kiểu áo cổ đứng cài khuy, vua chúa triều Nguyễn quả nhiên đã tạo nên “một cõi y quan văn hiến” khác hẳn với các triều đại trước đây. Những chiếc mũ Cửu Long Thông Thiên, Cửu Long Đường Cân của hoàng đế, mũ Phốc Đầu, Hổ Đầu, Xuân Thu của bá quan với không ít trang sức vàng bạc như Bác sơn, khóa giản, giao long cùng những tấm Long bào, Mãng bào thêu dày đặc hoa văn rồng mây, sóng nước mang lại cảm giác “ngợp mắt” chính là đặc trưng của trang phục cung đình triều Nguyễn.

Như vậy có thể thấy chế độ áo mũ của triều đình nước Việt thường xuyên diễn ra các đợt cải cách, sửa đổi, xuất phát từ tâm lý muốn khẳng định sự tiến bộ và khác biệt về văn vật trong sự đối sánh giữa các vương triều nội bộ nước Việt và trong sự đối sánh giữa vương triều Việt Nam với vương triều Trung Quốc. Bên cạnh đó, hậu quả
của những đợt phá hủy kinh thành, sách vở của quân Chiêm và quân Minh trong thế kỷ XIII, XIV cùng những động loạn của nội chính nhà Lê trong suốt những thế kỷ XVII, XVIII cũng là những nguyên nhân chính khiến việc tái thiết chế độ triều nghi, phẩm phục của triều đình trở nên bức thiết.

Leave a Reply

avatar
  Subscribe  
Notify of