Tin tức

Áo tay chẽn nữ lụa loan thọ

NÓN BA TẦM

Áo tay chẽn nữ lụa loan thọ

NÓN BA TẦM

Năm thương cổ yếm đeo bùa
Sáu thương nón Thượng quai tua dịu dàng
…..
Nón Hạ buộc quai thao vàng
Em về dưới trổ đổ đàng với anh
……
Ba trăm nón Nghệ đội đầu
Mỗi người một cái quạt Tàu thật xinh
……..

Các câu ca dao trên mỗi câu lại nhắc tên những nón Thượng, nón Hạ, nón Nghệ…những tưởng mỗi cái tên là nói tới một loại nón riêng. Nhưng thực chất tất cả đều là chỉ là tên gọi khác nhau của một loại nón, chiếc nón thúng, hay chúng tôi từ đây xin được phép gọi bằng cái tên quen thuộc – nón ba tầm.
Sở dĩ chiếc nón ba tầm có tên gọi nôm na là nón thúng vì hình dáng cơ bản của chúng nhìn như chiếc thúng nông lòng đựng thóc gạo ngày xưa, với vành tròn, rộng và mặt nón phẳng. Tên gọi của chiếc nón ba tầm mà chúng tôi đang dùng là được gọi dựa theo kích cỡ nón, theo kích cỡ và cấu tạo lớn nhỏ người ta còn có thể gọi chiếc nón bằng cái tên nón mười, nón thôn, nón năm, nón nhỡ….

Chiếc nón ba tầm lại có cách gọi mang đậm tính vùng miền, tại miền Trung dân gian gọi nón Thượng vì “Được làm ở Việt Yên Thượng (Việt Yên trên) tỉnh Hà Tĩnh” ([1]tr 29). Còn ở miền Bắc nước ta do chiếc nón “được làm ở vài làng của tỉnh Nghệ An xưa gồm có đất Hà Tĩnh” ([1]tr 29), nên lại được đặt tên là nón Nghệ. Đến khi được biên chép vào thư tịch chính thống của quốc gia, thì các soạn giả của “Đại Nam nhất thống chí”, với nhãn quan bao quát từ trên cao của các sử gia, nhắc đến sản vật xứ Nghệ chỉ ghi chép rất ngắn gọn bằng vài dòng “nón….nón may tinh xảo, phụ nữ cả nước đều dùng” ([3]tr 256). Và còn rất nhiều cách gọi vừa lạ vừa quen khác cho chiếc nón ba tầm – nón thúng mà chúng tôi không thể kể hết được trong khuôn khổ bài viết.

Nón ba tầm xưa thường được làm bằng 2 loại chất liệu phổ biến nhất là lá cọ và lá lau phơi khô, vì đây là 2 loại lá không thấm nước, lại có độ dài, dày vừa đủ để làm nón. “Đại Nam nhất thống chí” cũng cung cấp thêm một thông tin nhỏ về chất liệu nón “lá cọ hạng già dùng để lợp nhà, lá hạng non chỉ để lợp nón” ([3] tr 256). Trong sản phẩm nón phỏng dựng lần này của Ỷ Vân Hiên, loại chất liệu mà chúng tôi lựa chọn là lá lau.

Đến đây, lại xin được dông dài quay lại đôi chút cái chuyện tên gọi nón, một cái tên gọi quen thuộc khác mà hẳn các bạn đã từng nghe đó là “nón quai thao”. Quai thao ở đây là nói đến dải quai nón được kết từ các sợi tơ nhỏ, buộc vào hai bên mép nón rồi để chừa ra chùm tua lớn. Chiếc quai thao này đã gây ấn tượng rất lớn cho những người nước ngoài khi họ nhìn thấy phụ nữ Việt thời xưa đội những chiếc nón vốn đã lớn, lại có những chùm quai thao “giống như đôi bông tai lớn” ([2]).

Chiếc nón quai thao là một trong những đặc trưng của Bắc Bộ xưa, riêng dải quai thao lại là sản phẩm rất đặc biệt của làng Đơ Thao (Xã Triều Khúc, huyện Thanh Trì, Hà Nội). Còn nếu người đội nón là những phụ nữ xuất thân khá giả, thì để khẳng định vị thế của mình, không chỉ sợi dây quai thao mà cả chiếc nón của họ cũng được trang trí phụ kiện như chiên nón, thẻ nón, mỏ vịt…bằng vàng bạc. Thật may mắn cho chúng tôi, là trong quá trình phỏng dựng, đã được chính các nghệ nhân làng nghề Triều Khúc chế tác cho những dây quai thao trong ảnh.

Qua bao biến đổi của thời cuộc, chiếc nón thúng – ba tầm – quai thao từ lâu gần như không còn xuất hiện trong đời sống đương đại. Nhưng Ỷ Vân Hiên với mục tiêu “cựu kiến tân” và mong muốn đem những nét đẹp truyền thống tới với đời sống hiện đại, đã tiến hành phỏng dựng và thương mại hóa chiếc nón ba tầm xưa. Rất mong nhận được sự đón nhận và góp ý của đọc giả và khách hàng.

Ảnh minh họa: Nghệ sĩ nhân dân Thùy Liên đội nón ba tầm và mặc áo dài loan thọ Vạn Phúc
Thông tin sản phẩm
Tên sản phẩm: Nón ba tầm
Chất liệu: Lá lau

Nguồn dẫn:
1) Các tác giả, Những người bạn của Cố Đô Huế (1998), Huế, NXB Thuận Hóa, Tập V.
2) Charles-Édouard Hocquard, Une campagne au Tonkin, Paris, Hachette 1892
3) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí (2005) Huế, NXB Thuận Hóa, Tập 2.

Tác giả: Nguyễn Văn Hiệu

Leave a Reply

avatar
  Subscribe  
Notify of